TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Đăng ngày: 13/07/2026 - Lượt xem: 44
Lý luận chung và nội dung cốt lõi về mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi công nghệ và cấu trúc lại chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu sắc, việc đổi mới mô hình phát triển không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật mà đã trở thành yêu cầu chiến lược đối với mỗi quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập định hướng phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực trung tâm để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về động lực tăng trưởng, mà còn là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển quốc gia của Việt Nam.

Phát biểu tại hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh về yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước, ngày 26-5-2026_Ảnh: vneconomy.vn

Lý luận chung về mô hình phát triển quốc gia

Mô hình phát triển là sự mô phỏng, định hình về mục tiêu, quan điểm, đặc trưng, cấu trúc, cơ chế vận hành, nội dung cốt lõi, cách thức tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực để bảo đảm sự phát triển. Mô hình phát triển của một quốc gia về thực chất phản ánh những cách thức, con đường phát triển khác nhau dựa trên những ưu tiên khác nhau trong quá trình phát triển(1). Cụ thể, mô hình phát triển quốc gia là sự mô phỏng, phác thảo và định hình về quan điểm, mục tiêu, đặc trưng, trụ cột, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển tổng thể và trên các lĩnh vực phù hợp với đặc điểm của quốc gia nhằm đạt được mục tiêu xác định.

Mô hình phát triển quốc gia có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Khi mô hình phát triển quốc gia được định hình, sẽ phác thảo “đường đi”, “cách thức”, “phương tiện”, “ưu tiên về nguồn lực, động lực” để phát triển, hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Khi các mục tiêu phát triển đã được thể hiện và trình bày, các nhà lãnh đạo sẽ xác định mục tiêu, định hướng cụ thể để phát triển các ngành, lĩnh vực và có thể biết được nguồn lực nào cần có để đạt mục tiêu đó, xác định được quy mô của nguồn lực và cách thức tối ưu để huy động đủ nguồn lực cho các mục tiêu trong mô hình phát triển. Mô hình phát triển cũng là căn cứ để đạt được sự nhất trí về định hướng phát triển lâu dài của quốc gia; hướng dẫn cho các cấp lãnh đạo, cán bộ và nhân dân hành động, thực hiện cho mục tiêu chung trong mô hình phát triển. Mô hình phát triển quốc gia cũng có tác dụng quy tụ, gắn kết các chính sách, kế hoạch phát triển; giảm rủi ro về việc ban hành các chính sách, ra quyết định không có định hướng rõ ràng.

Mô hình phát triển quốc gia là một tập hợp nhiều thành tố có liên quan và nhất quán với nhau và được dựa trên những nội dung căn bản sau đây:

Bối cảnh, môi trường phát triển, trong đó làm rõ những xu hướng, đặc điểm, yếu tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển của quốc gia, những cơ hội, thách thức, những yêu cầu đặt ra đối với phát triển của quốc gia. Việc phân tích bối cảnh, môi trường phát triển của quốc gia bao gồm phân tích phạm vi về môi trường quốc tế, khu vực, trong nước; các yếu tố được xem xét, phân tích gồm các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế, khoa học, công nghệ…

Các quan điểm phát triển là những nguyên tắc chỉ đạo, cách xem xét, tiếp cận xuyên suốt về các nội dung phát triển của quốc gia và thường được đề cập đến các nội dung: 1- Khẳng định nền tảng tư tưởng, lý luận cốt lõi để định hướng phát triển quốc gia. Quan điểm này khẳng định mô hình phát triển quốc gia sẽ dựa trên sự nhận thức, vận dụng các lý luận, lý thuyết phát triển nào vào phát triển quốc gia. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm phải luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, đồng thời vận dụng, kế thừa có chọn lọc những giá trị, tinh hoa của thế giới cũng như kinh nghiệm phát triển trong nước. 2- Quan điểm về nguồn lực, động lực phát triển chủ yếu trong mô hình phát triển quốc gia. Đó là các nguồn lực bên trong, bên ngoài; động lực vật chất, động lực tinh thần… 3- Những quan điểm cốt lõi về vị trí, vai trò, định hướng phát triển trên các lĩnh vực và mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong mô hình phát triển của quốc gia.

Các mục tiêu phát triển bao gồm các mục tiêu phát triển chung và các mục tiêu phát triển cụ thể ở tầm dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của quốc gia. Các mục tiêu phát triển có khả năng định lượng và sẽ được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu, chỉ số cụ thể để đo lường và có ấn định về thời gian để thực hiện, hoàn thành mục tiêu. Các quan điểm, mục tiêu phát triển được hình thành từ những lý thuyết phát triển và từ đánh giá thực trạng phát triển, lợi thế phát triển của quốc gia. Việc xác định những nội dung này giúp quốc gia tập trung nguồn lực để đạt được mục tiêu nhanh hơn; giúp định hướng và xác định con đường phát triển cho quốc gia; giúp quốc gia nhận thức rõ hơn về những gì cần đạt được và tạo ra giá trị trong quá trình phát triển và cung cấp một định hướng rõ ràng và mục tiêu cho đội ngũ cán bộ, nhân dân, tạo ra sự thống nhất, hướng dẫn cho các hoạt động hàng ngày và giúp đội ngũ cán bộ hiểu rõ vai trò của họ trong việc đạt được mục tiêu tổng thể của quốc gia.

Các đặc trưng của mô hình phát triển quốc gia là các đặc điểm, các giá trị, nội dung đặc thù trong mô hình phát triển quốc gia. Các đặc trưng của mô hình phát triển quốc gia về thực chất chính là sự hội tụ, kết tinh những đặc điểm, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, cụ thể, đặc sắc được tổng kết, kiểm nghiệm là đúng từ thực tiễn phát triển của quốc gia. Các đặc trưng vừa mang giá trị, ý nguyện và khát vọng phát triển của quốc gia, vừa phản ánh những giá trị phổ quát, giá trị chung trong quá trình phát triển.

Các phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển là các chủ trương, định hướng phát triển lớn trên các lĩnh vực cụ thể của quốc gia. Các phương hướng phát triển là các cách thức để hiện thực hóa và có lô-gic (nguyên nhân - kết quả) với mục tiêu, quan điểm, đặc trưng phát triển của quốc gia. Từ các phương hướng phát triển sẽ được cụ thể hóa thành những định hướng phát triển, các nhiệm vụ, giải pháp phát triển cụ thể trên các lĩnh vực. Những nhiệm vụ, giải pháp phát triển cụ thể cũng được căn cứ vào thực trạng phát triển (điểm mạnh, điểm yếu); đánh giá môi trường tác động (cơ hội, thách thức); nguồn lực, điều kiện phát triển và từ những kinh nghiệm phát triển. Các nhiệm vụ, giải pháp phát triển có thể được hình thành từ việc sử dụng, tận dụng những điểm mạnh, cơ hội phát triển và khắc phục, hạn chế những điểm yếu, nguy cơ từ bên ngoài. Trong các giải pháp, nhiệm vụ phát triển quốc gia, cần xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá phát triển quốc gia.

Các mối quan hệ lớn. Trong mô hình phát triển quốc gia, có những mối quan hệ lớn cần giải quyết, đó là các mối quan hệ bản chất, biện chứng giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành, các mặt đối lập. Ở Việt Nam, các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong tiến trình đổi mới của đất nước, gồm: Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Các trụ cột trong mô hình phát triển quốc gia là những nhân tố cốt lõi, quyết định, là chìa khóa thành công cho mô hình phát triển quốc gia. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, các quốc gia công nghiệp hóa thành công, đều dựa trên ba trụ cột cơ bản là Nhà nước, thị trường và xã hội và giải quyết tốt mối quan hệ giữa ba trụ cột này. Tuy nhiên, ở mỗi một quốc gia, căn cứ vào điều kiện, đặc điểm phát triển cụ thể sẽ có những trụ cột khác nhau trong mô hình phát triển quốc gia và lựa chọn mức độ và hình thức hợp lý trong xử lý quan hệ giữa các trụ cột. Các trụ cột cụ thể trong mô hình phát triển quốc gia có thể là thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết cấu hạ tầng...

Các nguồn lực, động lực phát triển của quốc gia. Nguồn lực phát triển của quốc gia được xác định là tất cả những yếu tố có thể được sử dụng vào quá trình phát triển của quốc gia. Bên cạnh những nguồn lực truyền thống, như vốn, con người, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa,... nguồn lực để phát triển quốc gia còn được tiếp cận ở góc độ mới là các giá trị lịch sử truyền thống, sức mạnh tinh thần, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình phát triển, thông tin, dữ liệu, yếu tố địa chính trị, địa kinh tế, cơ hội phát triển... Vị trí, vai trò của từng nguồn lực cụ thể đối với quá trình phát triển quốc gia thay đổi phụ thuộc vào bối cảnh, trình độ, mô hình phát triển qua từng  thời kỳ cụ thể. Đặc biệt, trong bối cảnh mới của quá trình hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, khi lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh thuộc về những ngành dựa trên tri thức và công nghệ cao, thì nguồn lực khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn lực số, nguồn lực văn hóa có vai trò ngày càng quan trọng đối với quá trình phát triển quốc gia.

Động lực được hiểu là động cơ thúc đẩy, dẫn dắt một quốc gia theo một mục tiêu nào đó. Động lực phát triển của quốc gia là các yếu tố thúc đẩy phát triển, giải phóng năng lực, tiềm lực của quốc gia để tạo nên các đột phá phát triển. Động lực phát triển được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng chủ yếu là thông qua con người dưới góc độ cá nhân và cộng đồng. Ở góc độ cá nhân, động lực được thể hiện ở động lực vật chất và động lực tinh thần. Ở góc độ cộng đồng, động lực được thể hiện ở vốn con người, ở sự quyết tâm, sáng tạo, thống nhất, đoàn kết vì mục tiêu phát triển chung của đội ngũ cán bộ, nhân dân.

Để phát triển, các nguồn lực, động lực cần phải được sử dụng và phát huy hiệu quả, để từ đó, nguồn lực từ tiềm năng biến thành động năng phát triển, chuyển hóa thành các yếu tố đầu vào cho phát triển.

Những nội dung cốt lõi về mô hình phát triển đất nước trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc lựa chọn, xây dựng mô hình phát triển mới không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là sự lựa chọn mang tính chiến lược của Việt Nam. Việc nhận diện đúng mô hình phát triển, đồng thời điều chỉnh, hoàn thiện kịp thời các hợp phần cấu thành, như thể chế, khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực, cơ chế phân bổ nguồn lực được xem là điều kiện then chốt để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ mô hình phát triển mới để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng và nâng cao vị thế quốc tế trong giai đoạn mới là “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(2).

Trong mô hình phát triển của Việt Nam có sự kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Mô hình này dựa trên xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia; phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Nguồn lực, động lực trong mô hình phát triển Việt Nam hiện nay được Đảng ta xác định là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Mô hình phát triển mới của Việt Nam được nhận diện qua các đặc trưng:

Về kinh tế, các đặc trưng được thể hiện ở phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới; phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tăng cường tự chủ chiến lược, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; trong đó nội lực là chủ đạo, nguồn lực quốc tế là quan trọng.

Về văn hóa, xã hội, con người, phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Con người vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển; văn hóa, con người trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; nâng cao chất lượng sống tốt đẹp, văn minh, tiến bộ, đậm đà bản sắc văn hóa của người dân; phát triển xã hội tiến bộ, công bằng, văn minh và bảo vệ môi trường sinh thái trong sạch, lành mạnh; thực hiện tốt, hiệu quả các chính sách cụ thể chăm lo con người, phát triển đời sống, phát triển văn hóa, con người, giảm nghèo, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người dân, lấy con người là trung tâm; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm; hệ thống giáo dục, đào tạo; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu…

Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xác định rõ khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội; thể hiện ở năng lực của hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; mức độ phát triển thị trường khoa học, công nghệ; nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ…

Các công nhân, kỹ thuật viên kiểm tra chất lượng sản phẩm bằng phương tiện máy móc hiện đại tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Hana Micron Vina, chuyên sản xuất và gia công bảng vi mạch tích hợp sử dụng cho điện thoại di động và các sản phẩm điện tử thông minh khác_Ảnh:  TTXVN

Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thường xuyên củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, vững chắc để phát triển đất nước; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trật tự, an toàn xã hội. Kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Trong quá trình hội nhập quốc tế cần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi và vì sự tiến bộ, phát triển, hòa bình của nhân loại, vì hạnh phúc của con người. Chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; phấn đấu trở thành nhân tố tích cực, có trách nhiệm trong việc kiến tạo và thực hiện có hiệu quả các thể chế quốc tế, hội nhập quốc tế vì lợi ích chung của hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

Về chính trị, các đặc trưng thể hiện ở tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, kiến tạo phát triển, tạo thuận lợi về môi trường kinh doanh, đầu tư cho người dân, doanh nghiệp. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò làm chủ và chủ thể của nhân dân. Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mô hình phát triển mới đòi hỏi một hệ thống thể chế minh bạch, hiện đại, hiệu quả. Cải cách thể chế theo hướng minh bạch, hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân chính là điều kiện tiên quyết để mô hình phát triển mới đi vào thực chất.

Một số giải pháp đổi mới mô hình phát triển Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong kỷ nguyên phát triển mới

Dự báo trong kỷ nguyên phát triển mới, sự vận động của thế giới trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Thế giới đang chứng kiến những chuyển dịch mang tính bước ngoặt. Ở trong nước, đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước; đồng thời đây cũng là kỷ nguyên của sự bứt phá, tạo bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc nhằm hướng tới mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao. Trong bối cảnh mới như vậy, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp như sau để đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng. Xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị các cấp tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; chú trọng xây dựng tổ chức các cơ quan đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo nhà nước và xã hội; đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý - quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương gắn với nâng cao năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương. Tiếp tục khẳng định xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới, tập trung  tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn. Có cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thi hành nghiêm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, đầy đủ, đồng bộ, khả thi, hiện đại, hội nhập, có sức cạnh tranh quốc tế. Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, kinh tế hợp tác, hợp tác xã, các yếu tố, các loại thị trường. Vận hành đồng bộ thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động, thị trường bất động sản, khoa học,  công nghệ, tài chính... theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế. Tiếp tục phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Đẩy nhanh xây dựng và hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung tâm tài chính khu vực và quốc tế, khu thương mại tự do...  Giải phóng các nguồn lực phát triển, nhất là nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội và các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội.

Thứ hai, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó chú trọng tháo gỡ các rào cản về hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế, tài chính, thủ tục hành chính đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng và thực thi cơ chế đột phá, chính sách đặc thù, ưu tiên nguồn lực cho hoạt động khoa học, công nghệ, phát triển hạ tầng nghiên cứu khoa học, công nghệ làm cơ sở để phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hình thành những động lực mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xây dựng khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách cho đổi mới sáng tạo, các mô hình kinh doanh mới. Đổi mới căn bản quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, tháo gỡ các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là đổi mới cơ chế tài chính, cơ chế tự chủ. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý ngân sách nhà nước về khoa học trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả, có tính đến rủi ro và tôn trọng, tôn vinh các nhà khoa học. Hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo, nhất là trong nghiên cứu cơ bản. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh, môi trường hoạt động sáng tạo cho đội ngũ chuyên gia, nhất là những chuyên gia giỏi, có nhiều cống hiến cho đất nước. Tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ, nhất là các công nghệ mũi nhọn, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn. Nâng cao năng lực, làm chủ công nghệ mới; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, hình thành năng lực sản xuất mới.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, có cơ chế, chính sách mạnh mẽ thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an ninh, an toàn, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tập trung xây dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao. Thực hiện chuyển đổi số quốc gia trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia; thực hiện chuyển đổi số trong các doanh nghiệp (quản trị doanh nghiệp, nguồn nhân lực, dây chuyền sản xuất,...). Phát huy hơn nữa vai trò của các quỹ về phát triển khoa học và đổi mới công nghệ trong thúc đẩy nghiên cứu, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Phát triển một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, doanh nghiệp số chủ lực thực hiện tốt vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ số, làm nền tảng cho nền kinh tế số, xã hội số gắn với bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Tập trung sản xuất các thiết bị phục vụ hệ thống kỹ thuật số và chuyển đổi số (5G và các thế hệ sau); đẩy nhanh xây dựng xã hội số, tập trung chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho chuyển đổi số để phát triển xã hội số.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nền giáo dục hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới.  Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài. Hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học giỏi, công nhân kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của Đảng và Nhà nước thực sự tiêu biểu, nhất là những người đứng đầu, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng chiến lược quốc gia về giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Thực thi có hiệu quả, đồng bộ luật pháp và chính sách phát triển giáo dục - đào tạo; đưa giáo dục Việt Nam tiến kịp với các nền giáo dục tiên tiến ở khu vực và trên thế giới. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục; thu hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư nước ngoài cho giáo dục. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất, có sự phân công, phân cấp, phân quyền phù hợp. Đẩy mạnh xây dựng mô hình xã hội học tập, phong trào học tập suốt đời theo hướng đa dạng hóa, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giáo dục cơ sở; hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng, nhất là ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đào tạo từ xa, đào tạo trên nền tảng số; hỗ trợ những người yếu thế có điều kiện để học tập suốt đời.

Toàn cảnh cảng Đà Nẵng_Ảnh: danangport.com

Thứ năm, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng và liên kết vùng. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chuyển đổi số, phát triển xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung phát triển mạnh hạ tầng viễn thông, dữ liệu, nền tảng số, trung tâm dữ liệu và các hệ thống thông minh, coi đây là hạ tầng của hạ tầng trong kỷ nguyên số. Đẩy mạnh liên kết vùng, chuyển từ liên kết hành chính sang liên kết thể chế, hạ tầng và thị trường. Xây dựng cơ chế điều phối vùng có tính pháp lý cao, thúc đẩy hợp tác trong xây dựng hạ tầng kết nối đa phương thức (giao thông, năng lượng, thông tin).

Thứ sáu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tăng cường đối ngoại và hội nhập quốc tế là trọng yếu thường xuyên, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động vững chắc. Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước. Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; chú trọng tăng đầu tư hợp lý cho quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước./.

-------------------

(1) GS. TS Nguyễn Xuân Thắng: Mô hình phát triển của tỉnh Bình Dương trong công cuộc đổi mới đất nước và tầm nhìn định hướng đến năm 2050, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 15
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập 1, tr. 81

Nguồn: Tapchicongsan.vn

Tin liên quan